10. Cách mạng bản thân

13 Tháng Tư 20179:43 CH(Xem: 398)
10. Cách mạng bản thân

10- Cách mạng bản thân

Tối thứ Sáu 19-12-98

Bây giờ là 11:50 giờ khuya.

Gia đình tôi vừa đi dự tiệc Giáng sinh của công ty ở thành phố Newport Beach về. James, phó chủ tịch của công ty, lựa nhà hàng này để vừa ăn cơm tối vừa ngắm những chiếc tàu nhỏ thắp đèn Giáng sinh diễn hành dài dài theo bờ biển.

Lại một năm sắp hết. Cả nước Mỹ đang sôi nổi vì Quốc hội đang họp để bỏ phiếu quyết định chế tài Tổng thống Clinton. Cả thế giới đang xôn xao vì Tổng thống Clinton vừa ra lệnh tấn công Iraq vào hôm thứ Tư ngay trước ngày Quốc hội họp để kết tội ông.

Trong lòng tôi lại cảm thấy yên tĩnh vì trước mặt tôi là một con đường mới mà tôi đã chọn lựa và nhất định bước đi.

Tối nay trước ngôi Tam Bảo, cũng như mỗi hôm, tôi cầu nguyện ơn trên, ông bà hướng dẫn cho tôi đi đúng đường. Tôi cầu xin ơn trên, ông bà đừng bao giờ bỏ rơi tôi. Tôi luôn luôn khẩn cầu như thế và sẽ không bao giờ quên điều nguyện cầu này.

Từ khi đọc On Voidness, a Study on Buddhist Nihilism, tôi thấy tâm mình nhẹ đi nhiều. Những vọng động, ảo tưởng đều được thấy rõ. Cũng như ánh đèn được vặn lên thì bóng tối phải mất. Tất cả những lực bên ngoài dù về phương diện gì cũng không nhập tâm tôi được, và dĩ nhiên cũng không tấn công tôi được. Tôi biết là tôi phải cố gắng nhiều để được mạnh mẽ hơn hầu không buông mình trở lại sự yếu đuối cũ. Sự yếu đuối và lòng tốt tạo thành một thói quen hay nhường nhịn khiêm tốn, nhưng lâu ngày sẽ trở nên một sự bạc nhược của tâm linh. Mọi lý luận rồi chỉ nhằm biện hộ cho sự bạc nhược đó.

Từ đây tôi biết mình phải làm cách mạng đối với bản thân. Không có điều gì khó hơn là thay đổi một thói quen, nhất là thói quen của chính mình, và mình đã tập cho người khác phản ứng trong cách cư xử và đối đãi với mình. Giống như mình nấu một món ăn cho họ thích mười mấy năm qua. Nay mình cần phải nấu món ăn mà mình thích và tập cho mọi người ăn món ăn đó, dù họ có thích hay không thích, nhưng mình chỉ nấu duy nhất một món ăn đó. Mình lựa chọn món ăn mình thích để nấu, cũng như lựa chọn cách xử sự đối với mọi người, không ai có thể chọn cách xử sự của mình đối với họ.

 

Hôm nay đọc “The Six Stanzas of Reasoning” (Sáu Kệ Lập Luận) có những đoạn thật đáng ghi nhớ:

“If we eliminate birth and destruction as being nothing else than illusions, we eliminate at the same time existence and non-existence, their effects.”

(Nếu ta đoạn diệt sinh tử xem như không khác chi ảo ảnh, đồng lúc ta đoạn diệt hữu và vô và quả báo).

Đây là “Invocation” (Kinh cầu nguyện):

Đoạn 1:

“Those (men) whose mind, having gone beyond being and non-being, does not cling (to anything), (those men) understand the profound and supportless meaning of “condition.”

(Những ai có tâm siêu vượt hữu và vô, sẽ chẳng bám (vào vật gì, những kẻ đó hiểu được ý nghĩa sâu xa và bất trụ của “cảnh.”)

 

Đoạn 2:

“Now listen through which reasoning being also is eliminated by those who have already eliminated non-being, the source of all evils.”

(Chỉ có sự hiểu biết toàn diện về hữu và vô, những tư tưởng gia lớn mới được giải phóng khỏi tà ác).

Trong đoạn  4 có câu:

..”. only through the full knowledge of existence and non-existence are great beings liberated.” 

(... bằng sự hiểu biết trọn vẹn về hữu và vô mới là người được thật sự giải thoát).

Trong phần chú thích có đoạn: Sự vật chỉ là sự hiện hữu của ảo tưởng, do sự sai lầm của trí óc con người. Vì thế, cách duy nhất để diệt nó là chấm dứt hành vi sai lầm của trí óc đã tạo ra nó, và đó là sự hiểu biết đúng của sự thật, sự hiểu biết rằng đó chỉ là một ảo tưởng. Khi ta thấy một sợi dây và nghĩ đó là con rắn, ta không thể hủy con rắn bằng cách giết nó, cách duy nhất để hủy con rắn đó là chấm dứt sự sai lầm của ta, và thấy rõ trước mắt ta là cái gì: sợi dây.

“Only the knowledge of the true nature of things man to adopt a behaviour which does not provoke actions which enchain to samsara, and which permit liberation.”

(Chỉ có sự hiểu biết sự thật của sự vật con người mới chọn cách cư xử (đối đãi) để không tạo ra những hành vi  ràng buộc ta vào luân hồi, và cho phép ta được giải thoát).

Đoạn 5 viết:

Những người không thấy sự thật tin vào thế giới và cõi cực lạc, những người nhìn thấy sự thật không tin vào thế giới và cõi cực lạc.

Phần chú thích ghi rằng: Thế giới và cực lạc đều không hiện hữu lẫn không không hiện hữu, cả hai đều không, vượt lên có và không. Người tri thức, đã đạt trình độ hiểu biết tất cả là không tánh, không còn ý nghĩ sai lầm về những điều đó có, và dĩ nhiên không xem chúng như là đối tượng để mong cầu, cũng như người đàn bà được thấy trong mộng không thể được người tri thức yêu.



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Tư 2007
01 Tháng Ba 2007
01 Tháng Giêng 2007
2,098,197